Trang nay su dung font UniCode

  MẤY CHỮ NÀY NGHĨA LÀ GÌ VẬY?

Monitor là cái màn hình

Cùng 17-inch, màn hình LCD ít chiếm không gian hơn CRT.
Cùng 17-inch, màn hình LCD ít chiếm không gian hơn CRT.
 

         Đây là một bộ phận không thể thiếu được của một bộ máy tính. Tiếng Anh đọc “mo-ni-tơ” đích thị là cái màn hình.

         Thật ra, còn có một thuật ngữ khác để chỉ thiết bị này là “display screen” (màn hình hiển thị). Nhưng khi nói “display screen”, nó chỉ có nghĩa là cái màn hình (screen). Trong khi “monitor” bao hàm toàn bộ “cái hộp” hiển thị và hàm ý các khả năng đồ họa.

         Có nhiều cách để phân loại màn hình máy tính.

         Cơ bản nhất là phân biệt theo khả năng hiển thị màu sắc của chúng. Có ba loại:

         - Đơn sắc (monochrome): chỉ có hai màu, một cho nền và một cho tiền cảnh. Cặp màu này có thể là đen và trắng, xanh lá và đen, hoặc màu hổ phách và đen.

         - Sắc độ xám (gray-scale): đây là một dạng màn hình đơn sắc đặc biệt có khả năng hiển thị các sắc thái xám khác nhau.

         - Màu (color): có thể hiển thị các chế độ màu từ 16 tới hơn 16 triệu màu sắc khác nhau. Đôi khi người ta gọi nó là màn hình RGB, vì nó chấp nhận 3 tín hiệu màu riêng biệt: đỏ, xanh lá và xanh dương, tức ba màu cơ bản.

         Trong mỗi loại màn hình (phân biệt theo màu sắc) đó, người ta còn phân loại theo kích thước màn hình. Giống như ở tivi, màn hình máy tính cũng được đo theo đường chéo từ góc này sang góc đối diện bằng đơn vị inch. Màn hình cơ bản có kích thước VGA (14-inch). Các màn hình từ 16 - inch trở lên gọi là màn hình “nguyên trang” (full-page). Bạn chú ý, ngoại trừ màn hình LCD là có kích thước thật, các màn hình CRT (tức màn hình dùng ống phóng tín hiệu màu) luôn có một khu vực rìa (cặp theo bốn mép) không thể hiển thị hình ảnh (thường là mất toi 1 inch). Vì thế, các nhà sản xuất màn hình phải công bố rõ cho người tiêu dùng biết “khu vực có thể xem được” (viewable area) của từng loại màn hình. Thí dụ, màn hình 17 - inch chỉ hiển thị thực tế có 16-inch. 

 

Các chuẩn phân giải màn hình:

- VGA (Video Graphics Array): 640x480 pixels

- SVGA (Super VGA): 800x600 pixels

- XGA (Extended Graphics Array): 1024x768 pixels

- SXGA (Super XGA): 1280x1024 pixels

- UXGA (Ultra XGA): 1600x1200 pixels

- QXGA (Quad XGA): 2048x1536 pixels

- QSXGA (Quad SXGA): 2560x2048 pixels

- QUXGA (Quad UXGA): 3200x2400 pixels

- WXGA (Wide XGA): màn hình rộng 1366x768 pixels

- WSXGA+ (Wide SXGA+): màn hình rộng 1680x1050 pixels

- WUXGA (Wide UXGA): màn hình rộng 1920x1200 pixels

- WQUXGA (Wide QUXGA): màn hình rộng 3840x2400 pixels

 

         Độ phân giải (resolution) của một màn hình chỉ mật độ ảnh điểm (pixel) được nén chặt bao nhiêu trong một đơn vị diện tích. Nói chung, số pixel càng cao, hình ảnh càng sắc nét. Kích thước VGA chuẩn là 640x480 pixels. Hầu hết màn hình đời mới (từ 15-inch trở lên) có thể hiển thị chuẩn SVGA 1024x768 pixels. Những model cao cấp “high-end” còn có thể hiển thị 1280x1024 hay thậm chí 1600x1200 pixels.

         Mức độ sắc nét của màn hình còn dựa trên đơn vị “dot pitch”, tức khoảng cách giữa các pixel. Khoảng cách càng nhỏ, hình ảnh càng sắc nét. Đơn vị là mm. Chẳng hạn, Dot Pitch: 0.28 mm.

         Công nghệ sản xuất màn hình hiện gồm hai loại ống đèn hình CRT (cathode ray tube) và tinh thể lỏng LCD (Liquid Crystal Display), nhưng xu thế của thế giới đang chuyển sang LCD (hiện đại hơn, ít hao điện, đỡ hại mắt, chiếm ít không gian,...). CRT là công nghệ màn hình nguyên thủy, hiện có hai dạng: thường (màn hình cong, nguyên thủy) và phẳng (flat, thế hệ mới). Còn LCD từ dạng Flat Panel (bảng phẳng) thường hiện nay đã chuyển sang công nghệ TFT (Thin Film Transistor, đèn bán dẫn dạng phim mỏng), hay còn gọi là LCD “ma trận động” (active-matrix), công nghệ cung cấp độ phân giải tốt nhất trong tất cả các công nghệ LCD hiện thời.

          Màn hình hiện nay gồm hai công nghệ xử lý tín hiệu chính: analog (tương tự) và digital (kỹ thuật số). Trong khi các màn hình CRT chỉ là analog, các màn hình tinh thể lỏng LCD có thể được sản xuất với chuẩn analog hay digital hoặc cả hai.

Cổng VGA analog.
Cổng VGA analog.

Cổng DVI-I digital.
Cổng DVI-I digital.

         Các màn hình đời mới được trang bị chức năng OSD (On-screen Display) để hiển thị các thông số và các lệnh thiết đặt ngay trên màn hình.

         Khi sử dụng màn hình máy tính, bạn chú ý chỉnh tốc độ làm tươi (refresh rate) để hình ảnh không bị rung, có hại cho mắt. Tốc độ làm tươi được khuyến cáo ở màn hình CRT là từ 72 Hz trở lên, còn ở màn hình LCD là 60 Hz.

         Tất nhiên, chất lượng hình ảnh hiển thị trên màn hình cũng còn tùy thuộc vào chất lượng card màn hình (hay còn gọi là card tăng tốc đồ họa, card VGA,...).

PHẠM HỒNG PHƯỚC

(TPHCM 22-8-2004)

Khi mua màn hình:

- Chọn hàng của những hãng có tên tuổi, có uy tin.

- Có chế độ bảo hành chính hãng từ 2 năm trở lên.

- Kích thước mèng nhất cũng phải 15-inch, còn phổ biến hiện nay là 17- inch.

- Có chỉ số Dot Pitch càng nhỏ, càng tốt. Với màn hình CRT, lý tưởng là từ 0.25 trở xuống.

- Nếu có điều kiện tài chính, nên mua loại màn hình phẳng hay siêu phẳng Flat (cho hình ảnh đẹp, chuẩn, và đỡ hại mắt). Nếu phải xài loại thường, không nên chọn màn hình quá cong.

- Tự động điện thế (Auto-Volt)

- Đạt các chuẩn quốc tế về an toàn và môi trường.

- Ưu tiên chọn loại điều khiển bằng nút nhấn có chức năng OSD.

 

 

 MỤC LỤC | TRỞ VỀ TRANG CHỦ  |  TRỞ VỀ TRANG MỤC LỤC BÀI VIẾT



Copyright © 1999-2004 Pham Hong Phuoc Homepage